Việt Nam mong hiệu ứng lan tỏa của FDI – tăng năng suất từ chuyển giao kiến thức và công nghệ ở các nhà đầu tư nước ngoài sang nền kinh tế địa phương. Thế nhưng đến thời điểm này kết quả chuyển giao công nghệ chỉ đếm trên đầu ngón tay; rất ít doanh nghiệp (DN) Việt được các nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ sản xuất hiện đại.

Doanh nghiệp muốn được chuyển giao công nghệ từ phía doanh nghiệp FDI.

Hiệu ứng lan tỏa của FDI – tăng năng suất từ chuyển giao kiến thức và công nghệ từ các nhà đầu tư nước ngoài sang nền kinh tế địa phương được coi là đầu vào có giá trị nhất cho tăng trưởng và phát triển.

Như nhiều nước trong khu vực, Việt Nam thu hút FDI với mong muốn công nghệ mới, kỹ năng quản lý cao, cơ hội tiếp cận thị trường mới từ các tập đoàn đa quốc gia lan tỏa sang các DN trong nước, dẫn đến cải thiện năng suất của các DN này.

“Dòng vốn FDI được hoan nghênh nhưng chưa kết nối được với các DN trong nước ở một số ngành, gây hạn chế chuyển giao công nghệ, phương thức quản lý”, ông Charles Kunaka – Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng thế giới nhận định.

Sau 30 năm thu hút đầu tư, hiện nguồn vốn đầu tư nước (FDI) vào Việt Nam lên đến hơn 310 tỷ USD từ 126 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ở giai đoạn hiện tại các DN vừa và nhỏ của Việt Nam chủ yếu là nhà cung cấp cấp 3, được mô tả như là ngành sản xuất các nguyên liệu đầu vào nguyên liệu đơn giản và ít giá trị gia tăng.

Trong lĩnh vực phần cứng ICT (ngành điện tử) và ô tô, những sản phẩm này bao gồm nhựa, cao su, các bộ phận kim loại và khuôn mẫu. Qua nhiều năm khảo sát hoạt động sản xuất của DN, Ngân hàng thế giới thấy rõ, chỉ có 5,1% DN tham gia cung ứng cho DN FDI, trong khi tỷ lệ này ở Trung Quốc là 12,5%, Maylaysia chiếm 8,7%.

Điều đặc biệt, DN cung ứng của Việt Nam đa phần là nhà cung ứng cấp 3, không phải cấp 1 và cấp 2. Trường hợp có nhà cung ứng cấp 1 cũng là DN có vốn đầu tư nước ngoài, trong khi đó khả năng chuyển giao công nghệ giữa DN FDI và DN trong nước gần như giậm chân tại chỗ.

Thống kê cho hay, gần 14.000 dự án FDI mới có khoảng 600 hợp đồng chuyển giao công nghệ (chiếm tỷ lệ 4,28%).

Nguyên nhân chậm chuyển giao công nghệ giữa DN FDI và DN trong nước được các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước lý giải cụ thể. Theo đó, DN FDI đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là những ngành nghề tận dụng lao động.

Thậm chí, DN còn lách lỗ hổng pháp lý để chuyển dây chuyền sản xuất đã khấu hao hết vào thị trường Việt Nam. Về phía DN Việt Nam, thiếu vốn nên quy mô sản xuất nhỏ, hiếm lao động tay nghề cao, quản trị kinh doanh không phù hợp,…

Sự cộng hưởng trong việc chậm chuyển giao công nghệ từ các DN FDI nên năng lực cạnh tranh của DN Việt Nam bị đánh giá thấp.

Theo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2016, Việt Nam xếp hạng 100 trong tổng số 138 nền kinh tế về trụ cột mức độ phức tạp trong kinh doanh.

Theo Ngân hàng thế giới, liên kết với FDI đã được cải thiện nhưng vẫn chậm so với tham vọng của Chính phủ và mức độ cạnh tranh ngày càng cao trong khu vực.

Các chuyên gia Ngân hàng thế giới cho rằng, Việt Nam cần đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo; hỗ trợ sản xuất chế tạo, chế biến; nâng cao năng lực cạnh tranh cuối ngành.

Thanh Giang